Sâu lắng, thiết tha những làn điệu dân ca K’ho
Mùa khô về, trời cao xanh vợi, thóc lúa đầy kho, cũng là lúc các buôn làng Tây Nguyên bước vào mùa lễ hội. Với người K’ho, những làn điệu dân ca thường ngân vang bên bếp lửa nhà sàn mỗi tối và rộn ràng hơn trong Lễ Mừng lúa mới (Nhô Lir Bông hay Nhô Lir Vong), thường được tổ chức vào tháng 12 dương lịch.
Dân ca cất lên trong lễ hội và đời sống buôn làng
Sau Lễ Hiến tế trâu dưới cây nêu rực rỡ, dân làng múa xoang theo nhịp cồng chiêng, hát cho nhau nghe theo điệu khèn bầu. Lễ có khi kéo dài 7 - 10 ngày, từ buôn làng, mọi người kéo đến chung vui với từng gia đình, cùng quây quần uống rượu cần, ăn thịt nướng bên bếp lửa, cùng hát ngân nga những làn điệu yal yau, nri và sẻ chia niềm vui no đủ.
Những bài ca dân ca của người K’ho được chia thành 4 nhóm chính: yal yau, tam pớt - lah long, nri, bài cúng thần linh. Trong đó, lối hát yal yau có nghĩa là ngẫm ngợi chuyện xưa, còn gọi là hát kể, hát nói giữ vị trí đặc biệt. Yal yau có thể diễn ra từ ngày sang đêm; có những bài dài như trường ca, được hát liên tục 2 - 3 ngày đêm. Nhiều cuộc hát yal yau cuốn hút người nghe say mê theo từng lời kể suốt từ đêm đến sáng, từ trưa sang chiều; những ché rượu cần liên tục được châm thêm nước, khơi dậy bao câu chuyện được ngâm nga không dứt. Các điệu yal yau thường dựa trên hàng trăm truyện cổ, thơ ca (tam pla), trường ca, sử thi, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của dân tộc K’ho. Trong yal yau có điệu đơs crih đầy sáng tạo, đơs là nói, kể; crih là chuyện lạ. Thay vì chỉ kể, người hát dùng giai điệu để truyền cảm, khiến câu chuyện thêm sinh động và hấp dẫn hơn.
Lối hát tam pớt, lah long của người K’ho là những bài ca tình cảm, thường là đối đáp giữa nam và nữ, giống như hát giao duyên, đối đáp tình cảm của các dân tộc khác. Chỉ qua vài câu hát ghẹo nhau, có khi nên duyên đôi lứa. Những câu hát tam pớt như lời tâm tình mộc mạc từ những câu ca dao, tục ngữ. Chàng trai hát: Cô gái kia đẹp như lá hành nghiêng/ Anh sóc bắt gặp/Cô kia trắng, anh rái cá bắt gặp/Cô kia đẹp, phượng hoàng bắt gặp/Gái mới lớn, heo rừng đâm cây. Nàng sơn nữ được ví như những con vật quen thuộc, với hình dáng và màu sắc cây trái: Thân con gái như cây rau rịa/Tay con gái như măng mới mọc/Thân con gái như chuối chín trên cây...
Những bài hát tình cảm thường vang lên trong lễ hội, trên nương rẫy, bên suối vắng hay trong nhà sàn để người trẻ bày tỏ nỗi lòng; thường lời hát kết hợp giữa thơ và nhạc, hòa cùng không gian diễn xướng. Chàng trai hát, ca từ giản dị mà da diết: Chiếc cườm đẹp, chiếc cườm đá quý/ Trái cây chín trên rừng/Cơm đùm trong giỏ anh phải tự đi tìm/Măng pưt măng wai, ê ê măng tre dọc bờ suối. Nếu cô gái đang làm chòi cao sẽ vừa làm vừa đáp lại những lời hát từ tục ngữ: Gái không chồng làm việc không xong/Trai chưa vợ hay sinh chuyện chẳng lành/Làm nhà cần có gỗ/Đan rổ cần có tre/Làm nghề nông phải dùng nước...
Dân ca truyền khẩu kho tàng tri thức của người K’ho
Xưa kia, khi chưa có chữ viết, người K’ho lưu giữ tri thức và văn hóa bằng truyền khẩu. Vì thế, họ phát triển lối hát nói giàu nhạc tính, dễ thuộc, dễ nhớ, chứa đựng lời khuyên răn sâu sắc. Cùng với những điệu yal yau, tam pớt, ngay cả những bài luật tục cũng được thể hiện bằng lối hát nri: Chim sáo không ngừng rỉa cánh/ Chim le le không rảnh rỉa đuôi/Con ếch trong hang kêu ộp oạp/ Con cá dưới hố quẫy lum bum/Con trâu đã trả, chuyện đã xếp rồi… Khi xét xử người vi phạm luật tục, dân làng lại cất lên những bài ca nri, cô đọng mà dễ nhớ, phản ánh lối tư duy và thế giới quan gần gũi với thiên nhiên. Nhờ thế, luật tục dù không thành văn vẫn được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Mỗi câu hát là một bài học, một kinh nghiệm sản xuất hay sinh hoạt cộng đồng, tổng hợp tri thức thực tiễn, phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
Ngoài ra còn có các bài cúng hay bài ca nghi lễ dùng trong lễ cúng thần linh, có cấu trúc linh hoạt, số câu, số chữ không cố định nhưng đều có vần điệu. Đó là lời cầu khẩn gửi đến Yàng, đến đất trời: “Ơ Yàng! Này đây lễ vật dâng cho các Yàng. Yàng dựng nêu anh, Yàng dựng nêu em, đứng chứng kiến khắp vùng này nhé. Hỡi Yàng núi, Yàng sông, Yàng trời, Yàng đất. Xin cho mưa thuận, gió hòa, có lúa, có thóc, có bắp đầy nhà. Muốn có trăm gùi bắp, muốn có ngàn gùi lúa, ăn được chắc, bán được giá, con cái được ấm no. Ở nơi đây xin cho được giàu có, xin cho mọi người được khỏe mạnh, xin cho được bình an. Xin được sống đến già, đến bạc tóc, rụng răng. Sinh con muốn được khỏe mạnh, nuôi con muốn được lớn khôn”.
Kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian của người K’ho rất phong phú, với thơ ca giàu chất trữ tình, đậm nhạc tính. Các nhạc cụ truyền thống như: bộ cồng chiêng 6 chiếc, kèn ống bầu (kơmbuat), đàn ống tre (kơrla), trống (sơgơr)… vừa giữ vai trò đệm nhạc, vừa hòa âm cho lời ca. Bên cạnh đó, nhiều trường ca dài hàng ngàn câu được các cụ già hát kể suốt đêm trong lễ cúng Yàng ăn trâu. Nội dung các trường ca phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng, với những câu chuyện về tình yêu, tình bạn, tình cảm buôn làng, thiện - ác, sinh - diệt, gắn với các địa danh quen thuộc từ Ri Ôngto, Sre Nhắc, Bồ Liêng (Đinh Văn Lâm Hà) đến các vùng người K’ho sinh sống như: Dijing, Đạ Lạch, Đạ Ploa và kéo dài đến Pơjai (Tánh Linh, Bắc Bình ngày nay).
Do không có văn tự, người K’ho lưu giữ kho tàng văn hóa bằng lời nói, lời hát, biến truyền khẩu thành nghệ thuật, nơi mỗi câu hát vừa mang dáng dấp sử thi, vừa là lời tâm tình. Theo ông Trần Thanh Hoài - nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian nhiều năm gắn bó với công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, đời sống và hình thái sản xuất thay đổi khiến nhiều lễ hội dần mang tính phục dựng, không gian diễn xướng của yal yau, tam pớt, hát kể, hát nói cũng bị thu hẹp. Tuy vậy, công tác sưu tầm, bảo tồn ngày càng được chú trọng; nhiều làn điệu dân ca được đưa lên sân khấu, hội thi, hội diễn, còn lời hát, truyện cổ, trường ca, sử thi, ca dao, tục ngữ được ghi chép, xuất bản trong các tuyển tập. Đó là cách gìn giữ trọn vẹn nhất để những làn điệu dân ca K’ho tiếp tục ngân vang, sâu lắng và tha thiết qua các thế hệ.