Lúa mẹ thơm vàng ở miền ruộng núi

Đến Sơn Điền mùa này, giữa sắc đỏ chín của cà phê, màu xanh của rừng, những vạt lúa rẫy vàng rộm hiện lên như những nét chấm phá trong bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc. Dẫu đời sống ngày càng phát triển, người K’ho nơi đây vẫn gìn giữ giống lúa quý thuần chủng cùng lối canh tác cổ xưa, gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, tín ngưỡng và tâm linh được cha ông truyền lại qua nhiều thế hệ.

z4108829869869_5b0402e82fac73ea658ff1f2e6e426e4.jpg
Rẫy lúa mẹ ở Sơn Điền như một nét chấm phá trong bức tranh đầy màu sắc

Lúa mẹ gắn với vòng xoay đời người

Từ xa xưa, người K’ho đã tính tuổi đời người, bằng những mùa rẫy. Ông K’Biển người đã trải qua hơn 70 mùa rẫy chia sẻ: “Giống lúa mẹ trồng trên rẫy có sức chống chịu tốt, dựa vào nước trời mà lớn lên, không phân bón, thuốc trừ sâu. Mỗi năm chỉ có 1 vụ, trời cho mưa thuận gió hòa thì cây lúa trĩu bông, nặng hạt, buôn làng no ấm”.

Khác với người K’ho Sre ở xã Bảo Thuận, Di Linh có truyền thống làm ruộng nước từ lâu đời, trên những cánh đồng bằng phẳng cạnh sông suối, người K’ho Nộp ở Sơn Điền quanh năm chỉ có một mùa lúa rẫy. Mảnh đất được chọn gieo hạt là những sườn đồi thoai thoải, độ dốc thấp. Quy trình trồng lúa rẫy cũng rất đơn giản. Khoảng tháng 5 âm lịch, dưới cái nắng hanh cuối mùa khô, đồng bào sẽ đốt nương để vừa dọn sạch cỏ, vừa diệt trừ mầm sâu bệnh trong đất và tro cũng thành nguồn phân bón tự nhiên.

Khi cơn mưa đầu mùa rơi xuống vào khoảng tháng 6 âm lịch, đất đỏ bazan mềm ra, tơi xốp là lúc đồng bào lấy những bó lúa giống trên vách nhà xuống. Đàn ông đi trước cầm 2 cây thân gỗ vót nhọn đầu, chọc vào đất tạo lỗ, phụ nữ đi sau tay trỉa hạt, chân lấp đất lại. Trải qua 6 tháng mùa mưa, từ những cơn mưa đầu mùa lắc rắc, cây nảy mầm, lên xanh, lớn nhanh; đến những trận mưa kéo dài từ ngày đêm, nương lúa mơn mởn trải qua thì con gái, ngậm đòng. Gần cuối mùa, khi mưa thưa thớt dần cũng là lúc lúa uốn câu, hạt ngậm sữa căng tròn; khi mùa khô đến, lúa chín vàng, hạt mẩy tròn, chắc nịch, tỏa hương thơm ngát.

Từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch, đồng bào chỉ làm cỏ vài ba lần để “cỏ không tranh thức ăn của lúa”, phó mặc cho trời đất, gió mưa. Giữa rẫy lúa, đồng bào thường trồng những cây nêu, gắn những cành tre cong vút, phơ phất, khi gió lùa qua tạo tiếng kêu lách cách vừa đuổi chuột sóc, vừa cầu mưa gió thuận hòa, lúa nặng bông, tạo khung cảnh đẹp và chiều sâu tâm linh.

Tháng 12 âm lịch, trong cái nắng lạnh, đồng bào cùng lên rẫy thu hoạch, trân trọng từng hạt lúa mẹ, không dùng liềm cắt mà dùng tay tuốt cho vào gùi. Vừa thu hoạch vừa chọn để riêng những bông lúa dài, hạt to căng mẩy làm giống cho vụ sau. Lúa giống được bó lại thành từng túm nhỏ mang về, treo lên vách nhà, đợi đến mùa mưa năm sau lại một vòng tái sinh mới. Dù cách chọn giống rất cảm tính nhưng do được trồng giữa rừng già, giống lúa không bị pha tạp do thụ phấn chéo, không thoái hóa giống, giữ được sự thuần chủng cứ thế truyền đời.

Gìn giữ giống lúa mẹ cùng văn hóa, tín ngưỡng

Khi lúa đã vào kho, cũng là lúc đồng bào tổ chức Lễ hội Mừng lúa mới tạ ơn Yàng. Năm được mùa thì ăn trâu, năm mất mùa thì hiến tế gà, dê và dâng lên Yàng cả cơm lúa mới, sau đó dân làng cùng chia sẻ thành quả lao động.

Khi xưa, hạt lúa được giã bằng cối gỗ, vẫn còn lớp cám mỏng bọc ngoài, cơm nấu lên hương thơm bay khắp nhà, từng hạt rời nhau ra, dẻo, ngọt, ngậy, bùi. Ông K’Biển cho biết, những năm tháng ấy, bên bếp lửa nhà sàn, chỉ cần ăn cơm lúa mẹ với vài ba hạt muối gùi theo đường mòn từ miền Ma Lâm, Bắc Bình, Hàm Thuận lên đã thấy rất ngon rồi. Nếu có thêm vài con tôm, cá bắt từ suối nướng lên, hay ít cá biển khô nướng giã cùng ớt, rau thơm, ăn với cơm lúa mẹ cũng đủ để nhớ mãi đến bây giờ.

Xưa, người K’ho Nộp ở Sơn Điền ăn cơm lúa mẹ hằng ngày mà lớn lên khỏe mạnh như con nai rừng; nay chỉ đủ để dùng trong những dịp lễ, tết, cúng thần linh, tổ tiên và đãi khách phương xa đến với buôn làng. Một đời ăn cơm nhưng có dịp được một lần đưa thưởng thức cơm lúa mẹ, dù chỉ chấm với muối ớt rau thơm, càng nhai kỹ càng thêm ngọt, ngậy, khác biệt. Đạm bạc thôi, mà có cảm giác đang được ăn mỹ vị nhân gian.

Trong điều kiện 1 tấn nhân cà phê có thể mua được chục tấn lúa, lúa mẹ dần nhường chỗ cho cây cà phê và các loại cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, vì thế diện tích trồng lúa rẫy cũng thu hẹp dần. Nhưng đồng bào K’ho ở Sơn Điền vẫn dành một phần diện tích phù hợp để duy trì gìn giữ giống lúa mẹ của ông bà để lại và tận dụng những diện tích cây cà phê mới trồng chưa cao để xen canh và có thêm những hạt gạo quý.

z4108829842770_f6be4d70b1af9ae121a7135b48f28301.jpg
Cây nêu trên rẫy lúa mẹ tạo khung cảnh đẹp và ẩn chứa chiều sâu tâm linh

Diện tích lúa rẫy không còn nhiều, cả xã chỉ chưa đến 5 ha và tăng - giảm, không cố định từng năm, tùy vào nhu cầu sử dụng đất; gia đình nào trồng nhiều chỉ từ 1 - 2 sào. Vẫn lối canh tác xưa kia, lúa mẹ được trồng thuận theo lẽ tự nhiên, uống nước trời, hút chất đất bazan màu mỡ mà lớn lên, không sử dụng bất cứ phân bón, thuốc trừ sâu nào. Năm nào nhiều mưa, ít gió, năng suất cao lắm cũng chỉ đạt 200 kg thóc/sào (1.000 m2).

Với rất nhiều giống lúa cho năng suất cao, chất lượng tốt từ các vùng chuyên canh trên khắp đất nước, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Cây lúa rẫy từ giống lúa mẹ ở miền ruộng núi Sơn Điền hôm nay không còn đơn giản là giải quyết vấn đề lương thực cho đồng bào, mà là bảo tồn một giống lúa quý thuần chủng, một tập tục canh tác truyền thống gắn với văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh từ lâu đời của người K’ho và gắn với đất trời 2 mùa mưa - nắng ở miền cao nguyên.